Còn Đâu Những Lũy Tre Làng Việt Nam, Biểu Tượng Việt Nam: Tre Xanh, Xanh Tự Bao Giờ

-

(Dân trí) - Đã từ lâu lắm, hình ảnh cây tre đã đi vào dĩ vãng. Ở các làng quê dần dần vắng bóng cây tre, chỉ ở những vùng cao mới có mặt nhiều hàng tre xanh ngát.

Bạn đang xem: Lũy tre làng việt nam


*

Dọc đường tác nghiệp, lạc vào vùng quê xóm 9, Hưng Lam, Hưng Nguyên và một nhà lão nông ở Yên Thành (Nghệ An) chúng tôi khá bất ngờ khi con đường làng nhỏ, quanh co rợp những bóng tre xanh mát, um tùm. Có vườn tre đã được gia đình bảo vệ suốt cả 40 năm qua ở quê lúa nó hằng ngày đang vững chãi vươn mình trong bão táp mưa sa. 40 năm qua, những khóm tre, những thân tre gầy guộc mong manh, nhưng đã đem lại bao sự bình yên cho thông làng, gia đình.

Và tôi chợt nhớ đến câu thơ: “Tre xanh, xanh tự bao giờ/Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh…”. Cùng với cây đa, bến nước, sân đình, cây tre là những hình ảnh quen thuộc, thân thương của người dân Việt Nam. Tre cùng nhân dân Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc chiến tranh giữ nước - tre xứng đáng là hình ảnh biểu tượng cho tính kiên cường, bất khuất của người Việt Nam, là niềm tự hào của Việt Nam. “Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre và đánh giặc”.


*

Anh Nguyễn Văn Vị, xóm 9, Hưng Lam cho biết: “Những lũy tre xanh này có từ lâu lắm rồi, từ ngày tôi còn nhỏ ấy. Ngày ấy, cha có nói trồng tre để ngăn lũ lụt, vì thế đến mùa lũ lụt làng tôi không bị sụt lở. Đến mùa mưa, cây tre cho măng ăn hàng ngày. Với những cây tre già, héo thì bà con nơi đây làm hàng rào”.

Xem thêm: Công dụng của sâm ngọc linh với sức khỏe, dùng sao cho tốt

Cụ Nguyễn Phồn, 85 tuổi, xóm 9 chia sẻ: “Trời nắng nóng, oi bức mọi người ra đường tìm bóng mát của lũy tre tránh nóng, đón gió. Nhờ những lũy tre này mà người dân chúng tôi không đổ bệnh vì sự oi bức của mùa hè”.


*

*

Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê hương, chúng ta khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những khói rơm quấn quýt bên tre…

Và đây là vườn tre đã có tuổi đời trên 40 năm do một gia đình nông dân ở huyện lúa Yên Thành trông giữ, hằng năm vẫn bầy chim, bầy cò về trú ngụ làm tổ, sinh sôi nảy nở...

Hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, về việc chấp thuận nhà đầu tư dự án nhà ở thương mại, không qua đấu thầu, đấu giá


Thời sự Cafe BĐS Thị trường Kiến trúc - Quy hoạch Tài chính Bất động sản Đời sống cư dân
*

Cái hương ước này nó là một văn bản dưới luật, kiểu như điều lệ cơ quan hay công ty mà nay chúng ta khá quen thuộc, nhưng tính khả thi của nó cao hơn rất nhiều. Gia đình hoặc cá nhân nào đó trong làng vi phạm sẽ bị hội đồng kỳ mục họp ở đình làng công khai bàn luận và ra lệnh phạt. Lệnh này rất nghiêm, không thực hiện thì chỉ có nước bỏ làng mà đi. Chuyện này bạn nào đã xem vở chèo “Quan âm Thị Kính”, với màn phạt vạ kinh điển “Thị Mầu không chồng mà chửa”, hẳn sẽ rõ…

Lũy tre trồng ở rìa làng xưa thường là loại tre gai, ruột đặc, nhiều cành và nhiều gai nhọn. Nó đóng vai trò như một lớp thành lũy khó vượt qua. Trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên- Mông, nhà Trần đã cho tổ chức các làng thành các đồn lũy chiến đấu trải khắp nước. Lệnh vua ban ra cho đến tận các làng: giặc đến là phải đánh. Đánh xong rút vào sau lũy tre cố thủ. Tre gai dày đặc, ngựa Mông Cổ chịu chết không xông qua được. Đốt cũng khó cháy. Xong mùa giặc giã, tre lại nẩy lộc đâm chồi lên xanh mướt mát. 

Lũy tre các làng quê Việt nơi đồng bằng Bắc Bộ cứ hiên ngang tồn tại từ năm này sang năm khác, trải qua chiến tranh và mưa gió bão bùng. Đẻ chồng chất lên nhau. Xúm xít ken dày như bức tường thành bảo vệ vững chắc cho làng quê. Và tạo ra một cảnh quan, một bầu không khí thôn quê yên ả thanh bình trong trẻo đã in sâu vào kỹ ức người dân Việt.

Thế nhưng đến thời gần đây, nhất là từ khi có phong trào hợp tác xã thôn, liên thôn, toàn xã… lũy tre làng nhiều khi lại bị coi như là một cái gì trì trệ bảo thủ. Về tư duy, lúc đó người ta hay gào lên: “Hãy suy nghĩ vượt ra khỏi tầm của lũy tre làng”! Còn người nông dân lúc đó chán ngán cảnh sản xuất đồng ruộng nông nghiệp mà cơm chẳng đủ ăn, họ chỉ mong cho con cháu thoát ly sản xuất, đi công nhân, đi làm cán bộ viên chức…

Miễn sao “thoát khỏi lũy tre làng”! Lũy tre làng ngàn năm đã che chở dân lành, đã bảo vệ xóm làng trước thiên tai địch họa bỗng chốc trở thành một cái gì cũ kỹ, bảo thủ, cản trở sự tiến bộ cần phải hủy bỏ. Và thế là hình như có một phong trào âm thầm và bền bỉ, người ta đã dần đánh tan cái lũy tre ngàn đời kia ở các làng đồng bằng Bắc Bộ! Dịp gần đây với phong trào xây dựng nông thôn mới, người ta thiết kế những con đường chạy vòng quanh làng, thế là những khóm tre cuối cùng của bờ lũy làng xưa hầu như biến mất nốt. 


*

Gần đây, tôi đã nhiều dịp đi qua những làng quê ấy, thấy bên cạnh những con đường bê tông, nhựa to rộng đẹp đẽ chạy bao quanh làng, còn sót lại vài bụi gốc tre tầng tầng lớp lớp như thế chơ vơ bên lề đường. Thấy trong lòng mình có điều gì như là cảm thán. Lũy tre làng vốn ăn sâu trong tiềm thức, trong ca dao dân ca, trong văn chương thơ phú một thời về làng quê Bắc Bộ đã vĩnh viễn biến mất. Âu cũng là cái giá phải trả của văn minh tiến bộ, của công nghiệp hóa hiện đại hóa. Tôi đã tự nhủ thầm mình như vậy…

Nhưng mấy hôm nay, trên đường đưa cháu đi chơi, qua những khu nhà biệt thự của giới nhà giàu thủ đô. Những ngôi nhà đẹp đẽ xinh xắn trong những ngôi làng- village, biệt lập. Những ngôi nhà, ngôi làng của ước mơ đời người được sống an bình, thanh thản, trong bầu không khí êm ả trong sạch…Tôi bỗng nảy ra ý nghĩ, có cái gì sai sai ở đây trong bước đường phát triển mấy chục năm qua của chúng ta sao? Chúng ta đã một thời đả phá lũy tre làng bằng cả tư duy và hành động thực tế. 

Chúng ta hăm hở công nghiệp hóa hiện đại hóa làng quê với nhà cao tầng, với bê tông cốt thép, với mái tôn đỏ xanh nhức mắt. Để rồi sau đó, bỗng chúng ta lại thấy tiếc nuối và nhớ nhung cái làng quê êm đềm trong trẻo sau lũy tre xưa. Những cái làng quê đó chẳng đã làm nên hồn cốt cho dân tộc Việt đó sao?